1. Chào mừng Khách đến với svphatdiem.com phiên bản mới
    Hỗ trợ trực tuyến
                   
    Hotline: 0979.903.200

đồng tính luyến ái & quan niệm của giáo hội

Thảo luận trong 'Giáo lý - Sứ điệp - Tín lý' bắt đầu bởi zz_yeuchua_zz, 1/9/11.

  1. zz_yeuchua_zz

    zz_yeuchua_zz <font color="Blue" size=+1>Tổ mai mối</font>

    Tham gia ngày:
    4/5/09
    Bài viết:
    155
    Đã được thích:
    634
    Điểm thành tích:
    0
    Nghề nghiệp:
    Sinh viên
    Nơi ở:
    Thái hà
    ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI & QUAN NIỆM CỦA GIÁO HỘI
    Tác giả : Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ

    1. Đồng tính luyến ái có phổ biến không?

    A.C. Kinsey, trong công trình nghiên cứu vào những năm 1950 cho rằng: Tỉ lệ những người đồng tính luyến ái ở Mỹ vào khoảng 19%, tỉ lệ này hằng định, vượt thời gian và có lẽ sẽ mãi mãi như vậy . Nhưng khoảng năm 1968, một bản tường trình mới của Kinsey, dựa trên điều tra 16.000 Mỹ da trắng, cho thấy chỉ khoảng 4% ở nam giới quan hệ đồng tính cả đời. Nhưng theo D.J. West, trong “Homosexuality” , dường như con số này đã bao hàm cả những người chỉ có quan hệ đồng tính luyến ái thỉnh thoảng thôi. Tỷ lệ bên nữ còn ít hơn nữa.

    Cũng trong khoảng thời gian đó, những nghiên cứu của H.Ellis và M,Hirchfeld ở Đức cho thấy chỉ có 2,2% ở Anh và 2,3% ở Đức là có quan hệ tình dục đồng giới suốt đời .

    Theo P. Masơlôva, “ở Tiệp Khắc và nhiều nước Châu Âu có tới 4% đàn ông mắc bệnh này” . Nhưng gần đây nhất, theo tạp chí “Khoa học và đời sống” của Pháp, số tháng 7/1993, khảo sát mới cho thấy chỉ có 1% người Mỹ thuộc giới đồng tính luyến ái, và ở Pháp tỉ lệ là 1,4% .

    Ở Việt Nam, cho tới nay vẫn chưa có một cuộc điều tra, nghiên cứu để đưa ra những số liệu thống kê cụ thể. Nhưng, trong thực tế, đồng tính luyến ái - kể cả nam lẫn nữ - cũng không hiếm. Theo dự đoán của Bs. Trần Bồng Sơn, Việt nam “không thể hơn Mỹ về mặt này. Do vậy, có lẽ chỉ khoảng trên dưới 700 ngàn người cả nước.

    Tại Tp. HCM, giới đồng tính luyến ái có khá nhiều tên gọi: bóng kín, bóng lộ....và có khá nhiều dạng pédé khác nhau trong giới này. Số thực sự là đồng tính luyến ái có lẽ không nhiều, nhưng số ham vui, bon chen, tưởng tượng, kinh tế...thì khá nhiều.

    2. Phải hiểu đồng tính luyến ái như thế nào?

    Có thể ghi nhận một số cách hiểu như sau :
    Trước hết, danh hiệu đồng tính luyến ái, người ta muốn nói đến khuynh hướng tự nhiên của một người không cảm thấy sự thu hút hoặc hướng chiều nào đối với người khác phái; trái lại, chỉ muốn có quan hệ tính dục với người cùng phái mà thôi.

    Người ta cũng thường hiểu đồng tính luyến ái một người nào đó về mặt tâm lý và tình cảm luôn cảm thấy mình thuộc về người phái khác. Đó là trường hợp của một người nam trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử muốn tỏ ra mình là người thuộc phái nữ, hoặc ngược lại, cũng có những người thuộc phái nữ nhưng trong tâm lý cảm thấy mình thuộc phái nam.

    Ngoài ra, nói đến đồng tính luyến ái, người ta cũng nghĩ đến những người vì tiền bạc mà có những quan hệ đồng tính luyến ái với người khác.
    Cuối cùng những người đồng tính luyến ái không có khuynh hướng tự nhiên, mà chỉ vì trong môi trường sống của họ không có người khác phái.
    Từ những cách hiểu này, trước tiên chúng ta cần xác định lại một số khái niệm có thể bị hiểu sai và lẫn lộn với đồng tính luyến ái.

    2.1. Một số khái niệm

    2.1.1. Dị tính luyến ái và lưỡng tính luyến ái

    Theo một số tác giả, về mặt tình dục, nhân loại được chia ra làm 2 nhóm : Dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái.

    Dị tính luyến ái – heterosexual - đó là quan hệ giữa đàn ông và đàn bà. Đây là trường hợp của đại đa số loài người.

    Đồng tính luyến ái – homosexual - là những người chỉ có thể quan hệ với người cùng phái. Đây là trường hợp của một thiểu số rất nhỏ con người.
    Một số tác giả cho rằng: khi mà đồng thời lại có cả đồng tính luyến ái - tức là vừa có những quan hệ tình dục giữa những người cùng giới, vừa có quan hệ tình dục giữa những người đồng giới - thì hiện tượng đó thuộc về lưỡng tính luyến ái (bisexual). Số các tác giả khác không chấp nhận và cho rằng lưỡng tính luyến ái thường là giả hiệu. Thực tế, họ thuộc một trong hai nhóm trên, và chỉ “chuyển hệ” do nguyên nhân kinh tế, ít ra là tại việt Nam. Đối với bản thân người đó, có những phức tạp nhất định trong cuộc sống riêng. Nếu người lưỡng tính luyến ái không quyến rũ trẻ em thì không có gì nguy hiểm cho xã hội cả.

    2.1.2. Ái nam ái nữ

    Ái nam ái nữ có tiếng gốc Hylạp là Hermaphrodite. Theo thần thoại Hy lạp thì Hermaphrodite - con trai của thần Hermec và nữ thần Aprodite – là chàng trai tuyệt đẹp. Theo lời thỉnh cầu của nữ thần Salmanide, người đã phải lòng Hermaphrodite một cách đắm đuối và tuyệt vọng. Thượng đế đã hòa trộn cả hai người vào trong một thực thể lưỡng tính.
    Từ đó xuất hiện thuật ngữ “øHermaphrodite”, có nghĩa là sự tồn tại cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ trong một cơ thể.

    2.1.3. Sự đảo giới tính là gì ?

    Sự đảo – đó là thay đổi thự tự thông thường của sự vật, là sự hoán vị. Còn sự đảo giới tính thông thường có nghĩa là đồng tính luyến ái.
    Chuyển đổi giới tính – đó là mong muốn được thuộc về một giới tính khác với giới tính hiện có. Có thể chuyển đổi giới tính bằng con đường phẫu thuật hoặc có xu hướng bắt chước, ví dụ đàn ông xử sự như đàn bà và mong muốn mình trở thành đàn bà.

    Chuyển đổi giới tính có cơ sở di truyền, và cơ sở tâm lý, đôi khi là giả tạo, đôi khi đây là một bệnh tâm lý thực sự, ám ảnh bơiû ý nghĩ: “ Mình là đàn bà, không phải là đàn ông...” và ngược lại.

    Không nên nhầm lẫn chuyển đổi giới tính với đồng tính luyến ái, đó là hai khái niệm và phong cách hành vi hoàn toàn khác nhau. Chuyển đổi giới tính thực sự có mong muốn mạnh mẽ mình thuộc về một giới tính khác.
    Người chuyển đổi giới tính có xu hướng ăn mặc tương ứng với giới tính mà họ cảm giác rằng đó là giới tính của mình. Họ cảm thấy thỏa mãn khi những người xung quanh nhìn nhận họ là người của giới tính mà họ đang hương tới.

    “Người chuyển đổi giới tính cảm thấy mình là người đàn ông trong khi họ có cấu tạo cơ thể phụ nữ, nhưng ham muốn tình dục của họ hướng về phụ nữ phù hợp với tình cảm tâm lý giới tính của họ. Họ không thể bị coi là đồng tính luyến ái vì hướng ham muốn tình dục của họ không tương ứng với cấu tạo cơ quan sinh dục mà họ đang ghê tởm và muốn thay đổi nó” – Nhà tính dục học K. Imelinki đã nhận xét như vậy.

    Xuất xứ của chuyển đổi giới tính là do tổn thương cuộc sống ban đầu của thai nhi trong bụng mẹ vì ảnh hưởng của nội tiết lên quá trình hình thành một khu vực não bộ là hypothalamus – là tập hợp các trung tâm thần kinh bảo đảm cho sự thích nghi các chức năng khác nhau: trao đổi chất, hormon và các hệ thống khác đối với hoạt động của cơ thể một cách thống nhất. Ngoài ra không loại trừ sự xuất hiện chuyển đổi giới tính do giáo dục không đúng khi các cậu bé được giáo dục như các cô bé và ngược lại.
    Vấn đề tình dục của những người chuyển đổi giới tính là hướng tới dẫn dắt cơ thể mình theo đúng với giới tính mà về mặt tâm lý họ coi là của mình. Người chuyển đổi giới tính không bao giờ thủ dâm, sự động chạm đến cơ quan sinh dục (họ chối bỏ chính cơ quan sinh dục của mình vì chúng tỏ ra họ thuộc về một giới tính mà họ không thích) gây cho họ sự kinh tởm. Người chuyển đổi giới tính khác với người đồng tính luyến ái vì họ thường không có sự khoái cảm mang màu sắc gợi tình khi họ mặc quần áo của người khác giới.

    2.2. Đồng tính luyến ái

    2.2.1. Nguồn gốc từ ngữ :

    Đồng tính luyến ái - đồng là cùng, tính là giới tính (nam/ nữ), luyến ái là yêu thương gắn bó – đồng tính luyến ái nghiõa là những người cùng giới tính lại sống với nhau như vợ chồng, có quan hệ tính dục với nhau. Nếu điều đó diễn ra trong quan hệ nam với nam, người ta gọi là homosexual - đồng tính luyến ái nam, nữ với nữ là lesbian - đồng tính luyến ái nữ.
    Homosexuality/Homosexualité, từ này đi vào ngôn ngữ thường nhật của người Anh và người Pháp vào những năm 1890. Thực ra, nó đã được bác sĩ Benkert, người Hunggari, sáng tạo ra vào năm 1869.

    Trước đó, nhất là từ năm 1730, người ta hay dùng từ pédéraste – Kẻ loạn dâm hậu môn – gọi tắt là pédé, để thay thế cho từ ngữ sodomie – tật kê dâm – nhằm vứt bỏ tất cả những gì quy chiếu tới Thánh Kinh .

    “Cuối những năm 1960, song song với việc đặt lại vấn đề của phong trào nữ quyền đối với nhân dạng và vai trò giới tính, một số người đồng tính luyến ái Mỹ đã bước ra khỏi sự im lặng bị cưỡng bức, để chấm dứt một sự âm thầm bí mật, bị cảm nhận một cách đau đớn như mang tính bệnh lý. Để bắt đầu, họ thay đổi cách gọi. Thay cho từ ngữ “đồng tính luyến ái” vốn có một nghĩa kèm có tính y học gắn với sự đồi bại, họ thích dùng từ “Gay” . Từ này trung tính hơn, nó chỉ một nền văn hóa chuyên biệt và tích cực. Đó là sự ra đời cuả phong trào Gay, nó đặc biệt có mục đích chứng minh rằng tạp tính luyến ái không phải là hình thức tình dục độc nhất bình thường” .
    Bệnh này còn có tên là lesbisme/ lesbianism hoặc Saphisme. Có lẽ từ ngữ này xuất phát từ tên riêng của hòn đảo Lesbos, thuộc lãnh thổ Hy lạp. Theo cuốn sách “Bà Sappho có lý” thì vào thế kỷ 6 trước công nguyên, nữ thi sĩ cổ Hy lạp tên là Sappho sống trên hòn đảo này và là người đầu tiên ca ngợi bằng thi ca hiện tượng đồng tính luyến ái. Dựa trên tên gọi này nhiều người cho rằng những phụ nữ sống trên vùng đảo này có thói quen sống kiểu tình dục đồng giới như thế. Nhưng sau này nam giới bắt chước và phát triển cao hơn .

    2.2.2. Khái niệm

    Theo Freud, người đồng tính luyến ái đi tìm khoái lạc tính dục nơi những người cùng giới tính bằng những cử chỉ giống như những cử chỉ của việc giao hợp, hoặc có khi chỉ là những mơn trớn hôn hít. Quan hệ đó có thể họ là nam - nam hoặc là nữ - nữ.

    a. Đồng tính luyến ái nam

    Đồng tính luyến ái nam là một thứ lệch lạc về tính dục, một người đàn ông tỏ dấu ưa thích về tính dục với những người đàn ông hoặc với những chàng trai, kể cả những bé trai. Sự ưa thích này có thể có tính cách tuyệt đối hoặc tương đối.

    Tuyệt đối khi họ chỉ có quan hệ tính dục với đàn ông hoặc chàng trai khác. Hoàn toàn không bận tâm đến đàn bà.

    Tương đối khi có khuynh hướng đi tới những đàn ông khác, mặc dầu đương sự vẫn có thể cưới vợ, có con cái và một cuộc sống tính dục xem ra bình thường. Dẫu sao, qua phong cách sống luôn thấy có một khuynh hướng đồng tính luyến ái.

    b. Đồng tính luyến ái nữ

    Nơi nữ giới, việc loạn dâm đồng giới chủ yếu ở việc có những tương quan tính dục với những đàn bà khác, chẳng hạn việc giúp nhau thủ dâm.
    Hoặc hơn nữa, người phụ nữ, tự trong tâm trí, đã trở thành một người đàn ông, và đây là một người đàn bà đóng vai trò chủ động trong loạn dâm, họ đóng vai trò đàn ông. Cũng có thể họ vẫn giữ vai trò thụ động, còn người tình nữ của họ giữ vai trò đàn ông, nhưng người này phải không có những tật xấu của bọn đàn ông đáng ghét.

    Những “cặp vợ chồng” nữ này phải nói là quá nhiều. Kết quả là tràn ngập đau khổ, đầy ám ảnh và những trận ghen khủng khiếp.

    2.2.3. Một số cách nhìn

    Ngày nay, theo một số thăm dò của Pháp hay Mỹ, người ta nhận thấy rằng, có nhiều ý kiến khác nhau về những người đồng tính luyến ái. Dưới con mắt của rất nhiều người hiện nay, kẻ đồng tính luyến ái là một con người có tiềm năng nguy hại đối với trẻ nhỏ.

    Tháng 1/1981, tờ báo Elle công bố một thăm dò dư luận chứng tỏ các bậc phụ huynh không khoan dung với ý tưởng có con đồng tính luyến ái; 61% người được hỏi từ chối có tổng thống nước cộng hòa lại là đồng tính luyến ái ; 64% phản đối có nhà giáo dục lại đồng tính luyến ái. Chỉ có 24% nghĩ rằng đồng tính luyến ái là một cách sống đời sống tình dục; 42% chống lại nói rằng đồng tính luyến ái là bệnh tật, và 22% là sự đồi trụy tình dục phải đấu tranh. Còn đối với người lớn, có tới 70% đàn ông và đàn bà bình thường được hỏi năm 1977 đều trả lời rằng họ nghĩ những người đàn ông đồng tính luyến ái không được nam tính đầy đủ .

    Nhiều nhà nghiên cứu coi đồng tính luyến ái như là một hiện tượng bẩm sinh, một biểu hiện lệch lạc trong thích nghi giới tính, cũng có thể là một kiểu “sở thích” tình dục, và nói chung được xem là là thuộc nhóm “thiểu số tình dục”, khác với chuẩn mực hành vi tình dục được xã hội chấp thuận. Từ thời cổ, đồng tính luyến ái đã bị xem như một hiện tượng phóng đãng, quái đản, như hiện tượng suy sụp về nhân cách hay là một biến chứng của một bệnh ngứa. Từ sau K. Ebing, nhiều nhà khoa học đã không lên án những nhu cầu đồng tính luyến ái .

    Theo Kinsey, tất cả mọi người có thể chia thành 7 nhóm và trong mỗi nhóm đó, mức độ ham mê tình dục đồng tính và dị tính trong mỗi người khác nhau.

    - Ở nhóm 1 : 0 % đam mê tình dục đồng tính và 100% dị tính
    - Ở nhóm 2 : 10% và 90 %
    - Ở nhóm 3 : 25% và 75%
    - Ở nhóm 4: 50% và 50%
    - Ở nhóm 5 : 75% và 25 %
    - Ở nhóm 6 : 90% và 10%
    - Ở nhóm 7 : 100% đam mê tình dục đồng giới và 0% dị tính

    Sự ngẫu nhiên của cuộc sống, những hoàn cảnh khác nhau sẽ dẫn tới sự hình thành một trong các khuynh hướng nói trên.
    Các số liệu nghiên cứu xác nhận rằng nhiều người lưỡng tính luyến ái nhưng không hề biết gì về nó vì họ tuân theo những quan điểm chủ đạo. Chính hoàn cảnh sống có thể làm cho một người ở nhóm 6 lại không bao giờ trở thành như thế cả. Đối với người thuộc nhóm 1 và nhóm 7 là phức tạp nhất. Nhưng cả ở đây cũng có thể chuyển hướng được, dù rằng để làm được điều đó cần phải có những nỗ lực tối đa.

    Cũng trên nghiên cứu của Kinsey nơi 16.000 người Mỹ da trắng cho thấy, có 4% dân cư nam là đồng tính luyến ái chuyên nhất từ khi dậy thì, và có tới 37% đàn ông và 19% đàn bà công nhận đã có ít nhất một kinh nghiệm đồng tính luyến ái dẫn đến cực khoái trong khoảng giữa tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành. Hơn nữa, 39% đã có ít nhất một kinh nghiệm đồng tính luyến ái ngẫu nhiên giữa 16 và 55 tuổi . Theo một số cuộc điều tra tại Hoa Kỳ, trong học sinh trung học tại một số trường thì có tới 4,6% nam và 2,9% nữ có ứng xử kiểu luyến ái đồng tính. Tỉ lệ này có xu hướng gia tăng từ 18 - 19 tuổi trở đi, và có thể gia tăng lên tới 10 - 12% dân số.

    Từ lâu, các nhà sinh vật học đã cho rằng mỗi thực thể, cả giống đực lẫn giống cái, đều có 2 kiểu lựa chọn cách sử xự và tùy từng hoàn cảnh mà chương trình giống đực hay giống cái được hình thành.

    Theo kết luận của Hiệp hội tâm thần học Hoa kỳ, vào năm 1974, thì đồng tính luyến ái không phải là một bệnh theo đúng nghĩa. Ngay từ những năm 1958, có những nhà nghiên cứu đã cho rằng “đồng tính luyến ái không phải là một sự đồi bại tình dục, mà chỉ có thể xem xét như là một sự dị thường của loài người”.

    Trong nghiên cứu “Những tính chất bất biến về văn hóa của đồng tính luyến ái nam: những ý định kết luận từ nghiên cứu xuyên văn hóa” đăng trong Archives of Sexual Behaviomnol 12, số 3, tr. 207 – 226, F.L. Whitam đã đưa ra những kết luận dựa trên việc nghiên cứu các cộng đồng người đồng tính luyến ái thuộc nhiều nước như Hoa Kỳ, Goatêmala, Braxin và Philipphin như sau :

    - Những người đồng tính luyến ái có mặt ở trong mọi xã hội.
    - Tỷ lệ phần trăm người đồng tính luyến ái hình như cùng giống nhau trong mọi xã hội và giữ không đổi theo thời gian.
    - Những quy chuẩn xã hội không ngăn cản được, cũng không tạo thuận lợi cho sự xuất hiện khuynh hướng đồng tính luyến ái.
    - Những phó văn hóa đồng tính luyến ái xuất hiện trong mọi xã hội, nó có một con số đầy đủ những con người.
    - Những người đồng tính luyến ái của nhiều xã hội khác nhau có khuynh hướng giống nhau về mặt ứng xử và quyền lợi.
    - Mọi xã hội đều sản sinh ra một dải liên tục giống nhau giữa những người đồng tính luyến ái rất nam tính và nữ tính.

    Tất cả những điều này cho phép nghĩ rằng đồng tính luyến ái không phải được tạo sinh do một tổ chức xã hội đặc biệt nào, mà đúng hơn là một hình thức cơ bản của giới tính người, nó tự biểu hiện trong một nền văn hóa.
    Loạn dâm đồng giới là một hình thức bất lực. Đối với phần đông những người loạn dâm đồng giới, người đàn ông “đóng phe đàn bà” có được lợi điểm này là không phải là đàn bà, nghĩa là không phải thứ người họ vẫn sợ hoặc tưởng là mình ghét... Có một số loạn dâm chấp nhận tình trạng bất thường này của mình mà không đau khổ gì rõ rệt. Trái lại, có những người khác thì cố tự biện hộ, chống chế như trường hợp của André Gide.

    Dựa vào công trình nghiên cứu 106 trường hợp do 77 thấy thuốc cùng nghiên cứu một nhóm 100 người bình thường, hay khác giới tính. Tiến sĩ Bieber có tranh luận nhiều điểm liên quan đến những người đồng tính luyến ái, và đưa ra một số kết luận như sau :
    - Đồng tính luyến ái thường là một triệu chứng của sự sợ hãi và là một biểu hiện bị kiềm chế về tình dục khác phái.
    - Không phải mọi người đàn ông đều kềm chế được những ước muốn về tiønh dục đồng tính.
    - Đồng tính luyến ái là một trạng thái bệnh lý, nó không phải là một thái độ tình dục bình thường của nam giới.
    - Thực tế không có cơ sở di truyền về sự phát triển bệnh đồng tính luyến ái. Nó không phải là một thái độ được tiền định nơi con người.

    Một tác giả Việt nam cho rằng: “Đồng tính luyến ái ở dạng như ngày nay là dạng tình dục phân ly tồi tệ nhất chẳng qua là một kiểu chạy trốn thân phận và tình yêu tự nhiên mà tạo hóa ban cho. Nó không phải là một thứ bệnh bẩm sinh của một số ít người, mà là nạn dịch của những kẻ chạy trốn khỏi trách nhiệm tình dục tự nhiên chung cho loài người. Nó đe dọa đông đảo đàn ông, nhẹ dạ, với nhân cách bấp bênh, chưa phát triển đến nơi. Xét cho cùng, ý tưởng ái nam ái nữ là bệnh hoạn, giao hợp giữa con người và con người là kỳ quặc, phá hoại. Không có con người nói chung, mà chỉ có người đàn ông hay đàn bà mà thôi. Nếu ai đó chối bỏ tình dục khác giới thì tức là họ vứt bỏ nguồn gốc sâu xa của nhân thân và tình yêu thiêng liêng.”

    Như vậy, theo ý kiến của một số tác giả khác nhau, chúng tôi có thể rút ra một số ý kiến sau: đồng tính luyến ái thực sự phải xảy ra ở người đã trưởng thành, còn tuổi mới lớn là tuổi còn “mông lung”, chưa định hình, chưa rõ rệt, khuynh hướng tính dục... nên chưa gọi là đồng tính luyến ái được. Những người này có một khuynh hướng tình dục cố định với người cùng giới tính, nghĩa là có khuynh hướng bền vững, không thay đổi được, không phải nay với người bạn khác giới, mai với người bạn cùng giới được, và phải sống như vợ chồng với nhau, nghĩa là có quan hệ tình dục chớ không phải tình cảm xuông.

    Vấn đề quan trọng là phải phân biệt rõ ràng đồng tính luyến ái với các hình thức lệch lạc khác trong đời sống tình dục. Người đồng tính luyến ái không phải là người “loạn dâm” (pédastre), nghĩa là họ hoàn toàn không bị hấp dẫn hay lôi cuốn bởi những đứa trẻ khác phái. Họ cũng không phải là “giả trang” (travesti) nghĩa là không cảm thấy khoái cảm tình dục khi mặc quần áo của người khác giới. Họ cũng không phải là dạng “xuyên giới tính” (transsexuel), nghĩa là không cảm thấy như là một người khác phái và, do đó, không tìm cách chuyển đổi giới tính của mình.Thường thì những người đồng tính luyến ái không thuộc loại bán dâm. Chỉ có một số rất nhỏ trong số đó thuộc loại này mà thôi.

    Kế đến, cũng không nên giản lược hay thu gọn con người đồng tính luyến ái vào chỉ có chiều kích tình dục của họ mà thôi. Cần có một cái nhìn toàn diện hơn về họ.

    3. QUAN NIỆM CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI

    Tiếp nối những quan niệm về tình dục của Do Thái giáo, vào thời cổ Kitô giáo, đồng tính luyến ái bị coi là một tội ác. Nhưng cho tới nay, như TS. Zbigniewlew Starowicz nhận xét : “Các tiêu chuẩn về đạo đức luyến ái được Vatican thông qua trước kia và ngày nay rõ ràng là khác nhau. Đúng là vẫn những quy định như vậy (cấm thủ dâm, cấm các quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài giá thú, cấm đồng tính luyến ái hoặc xử dụng các phương pháp ngừa thai, phá thai...), nhưng ngày nay thì tinh thần của chúng đã được khoác lên những bộ áo mới khoáng đạt, tươi mát và bớt đi nhiều tính chất khắc nghiệt xưa” .

    Sách Giáo lý chung của Giáo hội Công giáo, ban hành 11/12/1992 đã đưa ra cái nhìn của mình về đồng tính luyến ái như sau :
    “Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hoặc những người nữ với nhau : họ cảm thấy sức quyến rũ về mặt tính dục một cách mạnh hơn hẳn, hoặc một cách độc chiếm đối với những người cùng giới tính. Nó đã mặc lấy những hình thức rất khác nhau qua các thế kỷ và nơi những văn hóa khác nhau. Sự phát sinh về tâm thần của nó vẫn còn nhiều điểm chưa lý giải được. Dựa trên thánh kinh vẫn lên án chúng là những hành vi suy đồi nghiêm trọng. Truyền thống luôn luôn tuyên bố “những hành vi đồng tính luyến ái là thác loạn tự bản chất của chúng” . Những hành vi này nghịch với luật tự nhiên. Chúng đóng cửa không cho hành vi tính dục ban tặng sự sống. Chúng không xuất phát từ một sự bổ khuyết cho sinh hoạt tình cảm và tính dục thật sự. Chúng không thể được chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào” .

    “Một con số không nhỏ những đàn ông và phụ nữ cho thấy có những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu xa. Họ đã không chọn lấy thân phận đồng tính luyến ái của họ; đối với đa số trong họ, đây là một thử thách. Họ phải được người ta đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Người ta phải tránh tất cả những dấu hiệu của sự kỳ thị bất công đối với họ. Những người này được gọi thực thi ý Chúa trong đời sống của họ, và nếu họ là những kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp với hy sinh thập giá của Chúa những khó khăn mà họ gặp phải trong thân phận của họ” .

    “Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi giữ sự khiết tịnh. Nhờ những nhân đức của sự tự làm chủ được mình, tức những nhân đức giáo dục cho tự do nội tâm, và đôi khi nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi, nhờ lời cầu nguyện và ân sủng các bí tích, họ có thể và phải dần dần và cương quyết tới gần sự trọn hảo kitô giáo” .

    Giáo Hội Công Giáo vẫn dứt khoát với lập trường của mình về quan hệ đồng tính luyến ái. Một quan niệm hoàn toàn dựa trên cơ sở của Thánh Kinh.

    Vấn đề là, trong tiến trình lịch sử, đã có quá nhiều người, khi nhìn về hiện tượng đồng tính luyến ái, dễ có khuynh hướng bóp méo nền tảng thánh kinh. Trong tranh luận về đồng tính luyến ái, người ta dễ có khuynh hướng trích dẫn một câu thánh kinh kết án hiện tượng này. Trong khi đó, cần phải đọc thánh kinh trong toàn diện, nghĩa là không nên tách biệt những câu hay những đoạn kinh thánh ra khỏi mạch văn của chúng.

    Đàng khác, xét dưới khía cạnh tâm lý, các tác giả không trình bày vấn đề dưới khía cạnh khoa học hay mục vụ như ngày nay. Họ cố gắng nhìn mọi thực tại của con người trong tương quan với chương trình của Thiên Chúa; họ xác tín rằng một tương quan xấu với Đấng Tạo Hóa luôn dẫn đến một tương quan xấu với các thụ tạo. Xác tín này cũng được áp dụng cho một thực tại nền tảng là tính dục con người.

    Dưới cái nhìn của các tác giả Thánh kinh, đồng tính luyến ái xét như là một đảo lộn trật tự tự nhiên là một cắt đứt quan hệ với Đấng tạo Hóa. Đưa ra phán quyết ấy, nhưng Thánh kinh không hề tuyên bố về trách nhiệm cá nhân của những người đồng tính luyến ái. Thánh Kinh chỉ muốn nhắc nhở rằng xét về mặt luân lý, không thể đặt ngang hàng đồng tính luyến ái với tình dục bình thường. Ngay từ đầu, Kinh Thánh đã khẳng định Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ; chối bỏ hoặc đi ngược với chương trình ấy là một điều không phù hợp với chương trình của Đấng Tạo Hóa.

    Theo Kinh Thánh, trong bản chất đích thực của nó, tình dục hướng đến việc trao ban sự sống. Dĩ nhiên, không phải mỗi hành động tính dục đều tạo ra một sự sống mới, cũng không phải mọi người đều bắt buộc phải có ý hướng ấy khi có quan hệ tình dục. Ngoài mục đích sinh sản, sinh hoạt tình dục còn có những mục đích khác nữa; tuy nhiên, mục đích sinh sản của tình dục cần phải luôn luôn được tôn trọng, nếu không tình dục sẽ bị dung tục. Trong quan hệ đồng tính luyến ái, khía cạnh sinh sản dĩ nhiên hoàn toàn bị chối bỏ, do đó xét theo bản chất và mục đích của tình dục, đây là những quan hệ hoàn toàn phản tự nhiên.

    Ngoài mục đích sinh sản, tình dục con người còn là ngôn ngữ của tình yêu vợ chồng, tình yêu này dĩ nhiên cũng gắn liền với sự sinh sản. Không phải mọi hành động tình dục trong đời sống vợ chồng đều dẫn tới việc sinh sản, nhưng hành động tình dục chỉ thực sự là ngôn ngữ của tình yêu, nếu nó hướng mở đến việc sinh sản. Tình yêu như thế không thể có trong quan hệ đồng tính luyến ái. Có thể có sự khóai lạc mà các quan hệ đồng tính luyến ái mang lại cũng giống như sự khoái lạc trong quan hệ vợ chồng. Đi tìm khoái lạc trong những hành động tốt tự nó không phải là điều xấu, nhưng tìm khoái lạc trong những hành động hoàn toàn tách biệt khỏi mục đích của chúng là một điều vô luân.

    Nhiều người lập luận rằng không nên đưa ra một phán đoán chung về mọi quan hệ đồng tính luyến ái, theo họ, có những quan hệ đồng tính luyến ái rất bền vững, có khi còn bền vững hơn cả quan hệ vợ chồng : nhiều cặp đồng tính luyến ái thương nhau thực sự và là điều tốt đẹp, nhưng không thể là một tình bạn bình thường và tốt đẹp khi nó dẫn đến những hành động tình dục nhưng không được thể hiện trong tinh thần tôn trọng đối với mục đích thiết yếu của tình dục, những hành động như thế không thể là thể hiện của một tình yêu đích thực và bền vững được. (Tình yêu đích thực là gì ? Bền vững là gì ? =>Khẳng định “Có thể” hay “không thể” , hoàn toàn là quan điểm chủ quan của người nói ? Lấy cơ sở gì để bảo đó là điều “Có” hay “không” ??? )

    Một tình yêu đích thực chỉ có trong quan hệ vợ chồng, bởi vì hành động giao hợp vợ chồng hướng đến mục đích của tình dục là yêu thương và sinh sản, chỉ có một quan hệ tình dục như thế mới có thể và phải bền vững, vì nó đòi hỏi trách nhiệm của con người, trong khi đó quan hệ tình dục đồng tính luyến ái không được xây dựng trên bất cứ một nền tảng nào đòi hỏi sự chung thủy và bền vững.

    Về mặt luân lý, cần phải nhìn đồng tính luyến ái dưới 2 khía cạnh: khách quan và chủ quan. Dưới khiùa cạnh khách quan, những hành động đồng tính luyến ái tự chúng đi ngược lại trật tự tự nhiên của tình dục. Những quan hệ của tính dục chỉ phù hợp với bản chất và mục đích của tình dục, khi chúng diễn ra trong quan hệ yêu thương của những người phối ngẫu nam nữ thôi. Tuyên ngôn “Nhân vị con người” do “Bộ giáo lý đức tin” ban hành năm 1975 viết : “Theo trật tự luân lý khách quan. Những quan hệ đồng tính luyến ái là những hành vi không phù hợp với luật thiết yếu và cần thiết cho chúng. Kinh thánh đã kết án những hành vi đó như là những lệch lạc trầm trọng, và nhất là xem đó như kết quả bi thảm của sự khước từ hứa. Phán đoán này cho thấy rằng những hành động đồng tính luyến ái tự bản chất là hỗn loạn và không thể được tán thành trong bất cứ trường hợp nào”.

    “Với phán đoán trên, Giáo hội bác bỏ quan niệm rất phổ biến hiện nay, theo đó quan hệ đồng tính luyến ái có thể được xem là tốt về phương diện luân lý. Đối với những người do cấu tạo tự nhiên hướng về người đồng phái, những người có chủ trương như thế cho rằng giữa hai người đồng tính luyến ái có thể có tình yêu chân thật và trách nhiệm. Theo Bộ Giáo lý Đức tin, một quan niệm như thế hoàn toàn sai lạc, vì một tình yêu đích thực đòi hỏi sự trưởng thành và tinh thần trách nhiệm”.

    Xét dưới khía cạnh khách quan, quan hệ đồng tính luyến ái tự nó là một hành động ngược lại với ý nghĩa và mục đích của tình dục, do đó đi ngược với trật tự tự nhiên. Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh chủ quan, chỉ Thiên Chúa mới có quyền xét đoán; có tội hay không là tùy lương tâm mỗi người trước mặt Chúa. Hơn nữa, có khuynh hướng đồng tính luyến ái chưa hẳn đã là một cái tội, do đó nhìn người đồng tính luyến ái với cái nhìn cảm thông là thái độ nền tảng trong cách cư xử của người kitô hữu.

    Cái nhìn rất tự nhiên của nhiều người Á Đông cũng như Tây phương đối với những người đồng tính luyến ái luôn chứa đầy sự khinh thị. Thái độ này không phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng. Đối với Tin Mừng, người đồng tính luyến ái cũng là tha nhân của mỗi người, do đó họ cần được được tôn trọng, đón nhận và nâng đỡ hơn bất cứ ai khác. Qua lời kêu gọi của Bộ Giáo lý Đức tin, người kitô hữu được mời gọi phải có cách cư xử với những người đồng tính luyến ái: Một cách toàn diện, cảm thông, nhìn nhận họ là những con người bình thường.

    Đồng thời, khi xác định đồng tính luyến ái vẫn là những người bình thường, họ phải được tôn trọng và cảm thông. Giáo hội cũng đòi hỏi chính bản thân họ phải là những con người có tự do và trách nhiệm. Cũng như mọi người, họ cũng được mời gọi nên thánh; cũng như mọi người có trách nhiệm, họ cũng phải sống khiết tịnh; và nếu họ là những kitô hữu, họ cũng phải sống thế nào để làm chứng cho các giá trị Nước Trời.

    Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ
    * SvPhatDiem.Com - Sinh Viên Công Giáo Phát Diệm *
    tungbin_th thích bài này.

Chia sẻ trang này