KHÔNG THỂ BỎ QUA TIN MỪNG CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ (Bài suy niệm CN tuần V TN B)

Đăng lúc: Thứ tư - 01/02/2012 21:18 - Người đăng bài viết: Đoàn Nam
KHÔNG THỂ BỎ QUA TIN MỪNG CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ (Bài suy niệm CN tuần V TN B)

 
Mang thân phận con người ai cũng có ít nhiều kinh nghiệm về khổ đau. Dù bạn là ai và danh phận như thế nào, vua quan hay thường dân, sang giầu hay nghèo hèn… cũng đều đi qua những giai đoạn của kiếp nhân sinh “sinh, lão, bịnh, tử”. Xét chung cách khách quan thì ai cũng giống nhau nhưng số phận và mục đích cuộc đời của mỗi người lại rất khác nhau. Nếu có nhiều người buông trôi theo số mệnh cuộc đời thì nhiều người khác dám đặt niềm tin vào một Đấng giải thoát họ khỏi đau khổ. Theo niềm tin Kitô giáo - có một Đấng sẽ hoá giải con người khỏi đau khổ, vượt lên khỏi tình trạng tầm thường của cuộc sống để bắt gặp được chân lý là sự sống đời đời đó là Đức Giêsu Kitô. Người là chân lý, ánh sáng và sự sống của nhân loại. Ở đâu vắng bóng Giêsu ở đó còn đau khổ. Đức Giêsu Kitô không những hăng say truyền rao sứ điệp sự sống và còn hơn thế nữa chính Người là sự sống để con người tìm đến an nghỉ trong niềm vui và hạnh phúc.
Mặc lấy thân phận phàm nhân, Đức Giêsu chỉ khao khát gần gũi mọi người; nhờ đó họ nhận ra ơn cứu độ qua tin mừng Người rao giảng. Suốt ngày bận rộn lo cho sứ vụ công bố tin mừng bình an và hạnh phúc nên thánh Máccô tóm tắt sứ vụ của Chúa Giêsu tại Galilê bằng một câu ngắn gọn: “Rồi Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ” (Mc 1, 39). Còn tác giả sách Công vụ tông đồ xác nhận Ði tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10, 38).
 
1. Còn đau khổ nếu vắng bóng tin mừng của Đức Giêsu Kitô.
Nhiều thế kỷ trước khi Đức Phật đưa ra châm ngôn “đời là bể khổ” thì Job đã ghi nhận điều cơ bản của thân phận làm người. Sớm hơn cả Job, ngay từ những ngày đầu của đời sống nhân loại, sau khi nguyên tổ phạm tội, đời sống con người đã ra cơ cực trăm điều. Tội lỗi đã lọt vào trần gian và gây nên đau khổ, chết chóc.
Trong cơn đau khổ, ông Job đã thốt lên: “Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hi vọng. Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ” (G 7, 6-7). Dường như hạnh phúc không thể tìm thấy ở đời này. Cuộc sống của con người trên trần gian là “thời khổ dịch, chuỗi ngày lao lung”. Ông Job đã liệt kê một loạt các từ ngữ diễn tả sự đau khổ của kiếp người như: khổ dịch, lao lung vất vả, đau khổ ê chề, không hy vọng, không thấy hạnh phúc.
Mặc dù ông Job chịu đau khổ thử thách nặng nề nhưng ông vẫn còn bám víu vào Chúa. Chưa biết đến tin mừng Đức Giêsu nhưng ông có niềm tin rất chắc chắn vào Giavê. Ông hoàn toàn tín thác và trung kiên với điều ông xác tín đối với Thiên Chúa. Job đã chấp nhận tất cả những thăng trầm của cuộc sống mà không hề xúc phạm đến Thiên Chúa. Cuộc đời ông trở thành mẫu mực về niềm tin và trung thành để mọi thế hệ noi theo. Tất cả những gì ông nhận lãnh, tất cả những gì ông mất hết đều thuộc quyền Thiên Chúa. Ông nhìn nhận ra sự vắn vỏi của cuộc sống và nhất là nỗi bất lực của con người nếu không tín thác vào Thiên Chúa: tự sức mình, ông “sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ”. Job đã được phúc sống trước tin mừng của Đức Giêsu Kitô vì biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới giải thoát con người khỏi đau khổ.
Thánh Phaolô cũng trải bao nhiêu khổ nhục và đau thương nhưng hướng chúng ta lên tầm mức cao hơn khi khẳng định không rao giảng tin mừng là đau khổ (x. 1Cr 9,16). Đúng vậy, tất cả các trở ngại nếu không được nhìn dưới nhãn quan của Giêsu thì chỉ thấy phi lý và thất vọng. Chỉ có tin mừng của Thiên Chúa trổi vượt, đáng tin cậy, đến chiếu toả và làm mới lại những điều nhân loại không thể làm được: tin mừng được rao giảng tới đâu, niềm vui dâng cao tới đó
Một trong những lời giảng đầu tiên của Chúa Giêsu đó là “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5, 5). Đức Giêsu đã mạc khải cho mọi người thấy sức mạnh phá tan mọi đau khổ, đem lại hạnh phúc cho muôn người, phát xuất tự nơi Thiên Chúa. Đức Giêsu chính là sức mạnh đó. Người biết rõ đau khổ xuất phát tự mối tương quan bị đổ vỡ giữa Thiên Chúa và con người. Nguyên nhân chính của sự đổ vỡ đó là ma quỉ thúc giục và sự đồng ý của con người. Bao nhiêu thời đại cần đến tin mừng của Thiên Chúa. Tội lỗi chỉ được cất đi khi công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện. Nhân loại vẫn còn ngồi trong bóng tối nếu tin mừng của Chúa Giêsu chưa chiếu toả trên đời sống mọi dân nước.
 
2. Tin mừng Chúa Giêsu phải đến được với muôn dân.
Rao giảng Tin Mừng là sứ mệnh của Chúa Kitô và của các môn đệ. Chúa Giêsu ý thức sứ mệnh của Người là “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4, 18). Tin Mừng phải hướng tới những nơi đang phủ đầy bóng đêm tội lỗi, đến được với muôn dân đó là công việc Chúa Giêsu luôn mong mỏi: “Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ” (Mc 1, 39).
Trở nên môn đệ của thầy Giêsu, Phaolô là một con người được dành riêng cho việc loan báo tin mừng: “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Giêsu Kitô; tôi được gọi làm Tông đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 1,1). Và ông nhận mạc khải để trình bày cho dân ngoại (x. Gl 2, 2). Phaolô xả thân làm điều đó vì biết Thiên Chúa là Đấng ông hết lòng thờ phượng phải được người ta nhận biết.
Phaolô nhận một sứ vụ để chu toàn và ông đặt trọng tâm ở các hoạt động tông đồ, không đặt trên thẩm quyền riêng nhưng trên Tin Mừng mà ông rao giảng giữa dân ngoại. Tin Mừng của Thánh Phaolô tập trung toàn bộ vào cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Đây là sứ điệp Kitô giáo căn bản mà Phaolô mạnh dạn công bố cho người Dothái cũng như cho dân ngoại và sứ điệp đã được đón nhận trên toàn thế giới.
Tin Mừng mà Phaolô công bố nối tiếp với Cựu ước, mạc khải mầu nhiệm che giấu từ thuở đời đời và hôm nay biểu lộ ra trong Đức Giêsu Kitô (x. Rm 16, 25-27). Chúa Giêsu đến để hoàn tất những điều các ngôn sứ đã loan báo. Người rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thực hiện những phép lạ để biểu tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa. Người không loại bỏ Dân ngoại, trái lại, Người luôn tiếp đón những ai đến với Người, thí dụ viên đại đội trưởng người Rôma (x. Mt 8, 5-10.13; Lc 7, 1-10; Ga 4, 46-54), người cùi trong đám mười người được chữa lành (x. Lc 17, 11-19). Muôn dân đang cần đến tin mừng. Nhân loại đang cần những người dám hy sinh tất cả vì tin mừng của Đức Giêsu Kitô.
 
3. Sống chết vì tin mừng của Đức Giêsu Kitô.
Nơi nào Tin mừng được rao giảng thì ở đó quyền năng cứu độ của Thiên Chúa hiện diện và hoạt động. Vì là quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải chỉ là lời rao giảng của loài người nên Tin mừng có thể chạm đến tận tâm can của những tội nhân cứng lòng nhất. Ơn cứu độ qua cái chết và phục sinh của Đức Kitô được ban cho mọi người tin dù là Dothái hay Hylạp. Trong Tin mừng, Thiên Chúa đã mặc khải mầu nhiệm sâu thẳm nhất, mầu nhiệm ấy, mọi người đều có thể đón nhận nhờ tin “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1, 17).
Tin Mừng Đức Giêsu đã đem lại nguồn an ủi và hi vọng lại cho bao người sầu khổ và thất vọng. Vì Đức Giêsu đã hoàn toàn đồng hóa với những người nghèo và Tin Mừng đã được rao giảng cho họ trước tiên. Tất cả những người nghèo khổ, bị áp bức và bị gạt ra ngoài xã hội đều góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa. Vì chính họ sẽ được hưởng trọn niềm vui giải thoát nhờ cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu.
Tin Mừng là chính Chúa Kitô, nên rao giảng Tin Mừng là đem Chúa Kitô đến với người khác. Bất cứ ai cũng có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng. Thánh Phaolô phát biểu: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9, 16). Ý thức việc rao giảng tin mừng là nhiệm vụ Thiên Chúa trao vì thế thánh nhân làm bất cứ điều gì miễn là tin mừng được rao giảng: “Nhờ ơn Chúa toàn năng nâng đỡ, chúng tôi có thể vui mừng chấp nhận bất cứ điều gì xảy ra cho cuộc đời chúng tôi” (Cl 1, 11).
Không riêng thánh Phaolô, các tông đồ khác cũng nhiệt thành không kém. Các tông đồ khác sau khi đã có kinh nhiệm về Đấng Phục sinh họ không sợ sệt, nhút nhát nhưng can đảm chấp nhận “vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”. Có thể nói chỉ còn 1 việc duy nhất phải quan tâm là rao giảng tin mừng. Họ sống chết vì tin mừng. Khi các Thánh Tông Đồ bị bắt, bị sỉ nhục và đánh đòn, các ngài ra về và “lòng rất vui mừng vì đã được coi là xứng đáng chịu xỉ nhục vì danh Chúa Giêsu” (Cv 5, 40). Thánh Phêrô cũng căn dặn chúng ta “được chịu đựng mọi đau khổ vì Chúa Kitô, anh chị em hãy vui mừng...” (1 Pr 4, 13).
Thời nào và ở đâu cũng có những tông đồ nhiệt thành làm vườn nho cho Chúa. Họ đánh đổi tất cả để sống chết với niềm tin của mình và niềm tin của nhân loại. Vất vả như thế để làm gì nếu không phải tìm được nguồn vui, sự sống va hạnh phúc đời đời.
 
Kết:
Bao lâu không đặt niềm tin nơi Thiên Chúa bấy lâu con người còn đau khổ và thất vọng. Không thể bỏ qua tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Tin mừng của Thiên Chúa là sự sống và hạnh phúc mãi mãi. Nhân loại chỉ lãnh hội được tin mừng qua Đức Giêsu Kitô. Tiếp bước theo chỉ thị của Người có rất nhiều tông đồ sống chết vì tin mừng, ước mong cho nhiều người được ơn cứu độ. Gương của thánh Phaolô, “trở nên tất cả cho mọi người”, làm tất cả miễn là Chúa Kitô được rao giảng.
Cùng với thánh Phaolô chúng ta có gương ông Job, một gương mẫu để cho mọi người hiểu được ý nghĩa của sự đau khổ và lòng can đảm của những người tin kính Chúa khi can đảm và kiên vững trong niềm tin chịu đựng những đau khổ của cuộc sống.
 
Mai Thi


Nguồn tin: http://www.svphatdiem.com
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc