ƠN CỨU ĐỘ KHÔNG BỊ GIỚI HẠN (Bài suy niệm CN tuần VI PS – B)

Đăng lúc: Thứ hai - 14/05/2012 21:05 - Người đăng bài viết: Đoàn Nam
Mạnh Tử, một triết gia Trung Hoa thời cổ đại đã để lại cho nhân loại học thuyết nổi tiếng “thuyết tính thiện”. Theo tiên sinh: “nhân chi sơ tính bản thiện”, nghĩa là bản tính sơ khai nguyên thuỷ của con người hướng về điều thiện. Ngay khi sinh ra, con người đã nhận được bốn nhân đức sơ thuỷ: Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí. Nhân là lòng thương người, nhân ái. Nghĩa là đầu mối phát sinh sự hổ thẹn, biết chê ghét điều xấu. Lễ là tâm tình khiêm tốn đơn giản. Trí là sự khôn ngoan biết phân biệt phải trái.
 
Tư tưởng của Mạnh Tử chẳng xa lạ gì giáo thuyết của Dothái giáo,
nhất là Kitô giáo. Được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa; vì thế con
người được đặt sẵn trong tâm khảm những điều thiện hảo và luôn hướng
về Thiên Chúa nguồn “Chân, Thiện, Mỹ”. Trước nhan Thiên Chúa, mọi
người đều bình đẳng. Mọi người đều có chỗ đứng trong tầm nhìn của
Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn mỗi người tuỳ theo hoàn cảnh, địa
vị, sứ mạng của mỗi người vào đúng thời đúng buổi, miễn là con người
ngoan nguỳ trước “tiếng nói từ bên trong”. Ơn cứu độ có đó và không
bị giới hạn nhưng nhận được hay không là do nỗ lực cộng tác của con
người.
 
1. Mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.
Những giáo huấn của Chúa Giêsu trong tin mừng thánh Gioan
chương 15 là những lời tâm sự của Người với riêng với các tông đồ
trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Các con hãy yêu mến nhau, như
Thầy đã yêu mến các con” (Ga 15, 12). Tuy nhiên những bài học đó
không chỉ dành cho các tông đồ hay cho một thiểu số nào đó; trái lại cho
tất cả mọi người. Đức Giêsu Kitô Phục sinh đã chẳng sai các tông đồ đi
rao giảng tin mừng đến tận cùng trái đất là gì? Tình yêu thương là giới
răn duy nhất nên thánh Phaolô quả quyết: “Kẻ yêu thương người anh em
thì đã làm tròn lề luật” (Rm 13,8).
Hoa trái của lòng mến rất phong phú, nó chi phối đời sống tâm linh
cũng như nhân bản của mỗi người. Thánh Phêrô trong một bài giảng
được Luca ghi lại trong sách Công vụ tông đồ đã xác quyết: “Tôi biết
 
rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên
Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được
Ngài tiếp nhận” (Cv 10, 34-35). Nói điều đó thánh tông đồ Phêrô muốn
ám chỉ sức mạnh nội tâm do Chúa ban khiến chúng ta làm được những
thành quả khi sống đức ái mà đôi khi chúng ta không nhận ra.
Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa Là Tình Yêu” (1Ga 4, 8).
Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Bản tính Thiên Chúa là Tình Yêu: “Tất
cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con
biết” (Ga 15, 15). Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu phát xuất tự
Thiên Chúa Cha, tình yêu này luân chuyển từ Người đến con người và
giữa con người với con người. Chính vì vậy Chúa Giêsu cũng đòi hỏi
“Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con” (Ga 15, 12).
Và thánh Gioan cũng đưa ra nguyên tắc “Không phải chúng ta đã yêu
mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã thương yêu chúng ta trước, và đã
sai con Một đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta” (1Ga 4, 10).
Được rửa tội nghĩa là chúng ta đã trở nên con cái Thiên Chúa, anh
em và bạn hữu của Chúa Giêsu, “dòng dõi được tuyển chọn, là hàng tư
tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Chúa, để loan báo các kỳ công
của Chúa…” (x. 1Pr 2, 9). Tuy nhiên chúng ta đừng dựa vào những danh
hiệu hoặc đặc ân của địa vị làm con để sống buông thả hay thụ động
trước ơn thánh Chúa. Chúng ta nên quan tâm đến lời cảnh cáo của ông
Phaolô và ông Banaba đối với những người Dothái: “Anh em phải là
những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh
em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời
đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại” (Cv 13,46). Mặc dù dân
ngoại hay những kẻ một thời tội lỗi, không chừng họ sẽ đạt được đích
trước chúng ta. Bởi thế Phêrô mới nhắn nhủ: “Thiên Chúa không thiên
vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù
thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10, 34-
35).
Thực tế đang có nhiều người lý luận “đạo nào cũng tốt”, “tôi sống
đạo trong lòng Chúa biết là được”…. Những quan điểm đại loại như
thế cần phải được sửa đổi; bởi vì Chúa cho chúng ta có nhiều điều kiện
thuận lợi được nghe và học biết về đạo… nên ta cũng phải biết đón nhận
và biết sinh lời từ những hồng ân đã nhận lãnh. Mọi người bình đẳng
 
nhưng không quên công bằng.
 
2. Thánh Thần hoạt động dưới nhiều phương diện khác nhau.
Sách Công vụ Tông Đồ đã kể lại những lần các Tông Đồ rao giảng
và việc hàng ngàn người trở lại đạo. Số người trở lại đông đảo không
phải do tài hùng biện của các tông đồ cũng không phải một mối lợi lớn
khi vô đạo nhưng Thánh Thần Chúa thúc đẩy trong lòng họ. Những
chứng nhân làm chứng rằng mỗi lần nghe các tông đồ giảng đạo, chịu
phép rửa xong thì Chúa Thánh Thần ngự xuống trên họ: Các tông đồ và
“những tín hữu thuộc giới cắt bì đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng
ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa” (Cv 10, 45).
Chúa Thánh Thần đã qui tụ mọi người thành một nhân loại mới
của Thiên Chúa. Thánh Thần như gió “muốn thổi đâu thì thổi”. Khi đến
thời đến buổi Ngài sẽ “canh tân bộ mặt trái đất”. Vai trò của Thánh Thần
là hợp nhất, là phá bỏ mọi ranh giới ngăn cách nhân loại với nhau và
với Thiên Chúa. Thánh Thần ngự xuống chính là dấu chỉ và bảo đảm
rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa có tính cách phổ cập, kế hoạch cứu độ là
dành cho toàn thể nhân loại chứ không riêng gì một dân tộc được tuyển
chọn.
“Đấng Bảo Trợ” được Đức Kitô Phục Sinh hứa ban hoạt động
bên trong nội tâm của con người, ban ơn linh hứng cho Giáo hội. Chúa
Thánh Thần vẫn đang hoạt động tuy âm thầm nhưng rất mãnh liệt trong
chúng ta và Giáo hội Đức Giêsu đã lập. Dù là ai, địa vị và sứ mạng như
thế nào thì chúng ta vẫn có nhiệm vụ nên thánh. Dù con thuyền Giáo hội
có lúc như sắp chìm nhưng sẽ không bao giờ tan rã. Thánh Thần vẫn có
trong chúng ta, điều quan trọng có nhận ra và thực hiện những gì Ngài
đang yêu cầu chúng ta làm hay không. Ơn cứu độ sẽ viên thành nếu ta đi
theo hướng Ngài chỉ dẫn.
 
3. Ơn cứu độ không bị giới hạn.
Thánh Kinh quả quyết: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được
cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2, 4). Và “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa
và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Ngài
tiếp nhận” (Cv 10, 35).
Dấu chỉ để nhận biết hạnh phúc đích thực và phần thưởng ơn cứu
 
độ của Thiên Chúa là việc thực thi “lòng yêu thương”. Qui luật: “Ai
không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình
Yêu” (1Ga 4, 8) bao giờ cũng đúng. Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa
được thể hiện trọn vẹn qua mầu nhiệm tử nạn và Phục Sinh của Chúa
Giêsu Kitô. Trong Đức Kitô chúng ta được sống và tăng trưởng: “Ngoài
Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có
một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ
vào danh đó mà được cứu độ" (Cv 4, 12).
 
Kết:
Quan tâm đến phần rỗi của mình và tha nhân là bận tâm hàng đầu
của chúng ta. Cùng với tiếng nói nội tâm đánh thức bản tính thiện trong
lòng chúng ta để chúng ta thi thố tình yêu của mình với Chúa và tha
nhân. Những câu lời Chúa thật ngắn gọn sẽ là ý lực sống của chúng ta
trong tuần này.
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em
như vậy” (Ga 15,9a).
“Anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga
15, 12).
“Tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha, nhân danh Thầy, thì
Người ban cho anh em” (Ga 15, 16).
 
Mai Thi
Tác giả bài viết: Mai Thi
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc